26/12/2011 3:17:56 CH

Óc chó

(Juglans regia); tk. Hồ đào, hạnh đào, phan la tử. họ Hồ đào (Juglandaceae).

Cây to, cao đến 20m. vỏ thân nhẵn, màu xám tro, có vết nứt dọc. Lá kép hình lông chim, mọc so le, có cuống dài, gồm 5 -  9 lá chét, vò ra có mùi thơm đặc biệt. Phiến lá chét hình trứng thuôn, to dần về phía ngọn. hoa đơn tính cùng gốc, màu lục vàng, hoa đực mọc tụ họp thành hình đuôi sóc buông thõng, hoa cái mọc thưa, riêng lẻ. Quả hạch, có vỏ dày và nạc, khi chín nứt thành 3 – 4 mảnh, nhân có nhiều rãnh nhăn nheo trông như óc động vật, chứa dầu. mùa hoa: tháng 3 – 5; mùa quả: tháng 9 – 10.

Cây có nguồn gốc ở Châu Âu  và Châu Á, được nhập trồng vào Việt Nam ở những vùng có khí hậu mát như Hà Giang, Cao Bằng. Còn có ở Trung Quốc, Nhật Bản…

Tây y dùng lá OC là chủ yếu. Lá tươi 50g, thu hái khi quả OC mới hình thành (tháng 6 – 7), cho vào một lít nước. Đun sôi khoảng 30 phút. Để nguội, chắt lấy nước dùng ngậm hay súc miệng chữa viêm họng hoặc thụt âm đạo chữa khí hư. Vỏ thân và vỏ quả OC cũng có tác dụng như lá. Hoạt chất juglon chiết từ lá non và lá bánh tẻ với liều 0,5g pha trong cloroform cho tan rồi trộn với vazơlin làm thuốc mỡ, bôi hằng ngày chữa chốc lở, vẩy nến, eczema.

Đông y lại dùng nhân hạt. hồ đào nhân có vị ngọt, tính bình, hơi ấm, và phế, thận, có tác dụng bổ dưỡng, lợi khí huyết, lợi mật, nhuận tràng, tiêu đờm. Ngày dùng 10 – 20g, dưới dạng thuốc sắc, thuốc viên hoặc giã nhỏ nấu cháo ăn hằng ngày.

Thuốc dùng rất tốt cho người cao tuổi. Hồ đào nhân giã nhỏ hoà với rượu uống, còn lá tươi hoặc vỏ quả giã đắp ngoài, chữa vết thương, đau nhức.

Dầu hạt dùng bôi ngoài chữa bỏng, chàm, lở và nhuộm tóc đen. Hồ đào nhân (4 lạng) phối hợp với phá cố chỉ, đỗ trọng, tì giải (cũng 4 lạng) tán thành bột, thêm mật ong làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên vào lúc đói, với rượu hoà ít muối hãm nóng, làm thuốc bổ, mạnh gân xương, làm sáng mắt (bài thuốc của Trung Quốc đã được áp dụng ở Việt Nam có kết quả tốt).

bsgd_moi.vn

Share this:

Bình luận