30/12/2011 10:06:40 SA

Ô Dược Nam

Cây cao khoảng 1 – 1,5m. Cành gày màu đen nhạt. Lá mọc so le, hình bầu dục, dài 6cm, rộng 2cm, mặt trên bóng, mặt dưới có lông, ngoài gân chính còn hai gân phụ, xuất phát từ một điểm cách cuống lá 2mm, dài ra chừng 2/3 lá, mặt trên lõm, mặt dưới lồi, cuống gầy, dài 7 – 10mm, lúc đầu có lông sau nhẵn, mặt trên làm thành rãnh. Hoa màu hồng nhạt, họp thành tán nhỏ, đường kính 3 – 4mm. Quả mọng hình trứng, khi chín có màu đỏ, trong có 1 hạt. Toàn cây có mùi thơm, vị đắng. Mọc hoang nhiều nơi ở Việt Nam: Hoà bình, Sơn Tây... Mùa hoa và quả: tháng 4 – 6.

Dùng rễ làm thuốc. Rễ mập, rắn chắc, vỏ ngoài màu nâu, thịt trắng ngà, có mùi thơm, rễ to ở đoạn giữa, hai đầu bé, hơi cong, có những chỗ phình to ra gần như hình chuỗi hạt, dài 5 – 10cm, đường kính chỗ phình to 1,5 – 2cm. Thu hái quanh năm nhưng tốt nhất vào vụ thu đông hay xuân. Rễ đào về, loại bỏ tạp chất, phân loại to nhỏ, ngâm nước khoảng 1 ngày, rồi ủ mềm, thái lát, phơi khô. Bảo quản nơi khô mát, tránh mối  mọt.

ÔDN vị cay, tính ấm, vào bốn kinh: tì, vị, phế, thận.

Tác dụng: Thuận khí, trừ chướng đầy, tiêu thực, giảm đau. Trị trúng phong, đau vùng thượng vị, vùng ngực và cơ hoành bị trướng, tiêu thực tích, nôn mửa, bàng quang lạnh, đi tiểu vặt. Ngày dùng 6 – 12g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán.

Bài thuốc Ô hương tán: ô dược, hương phụ hai vị bằng nhau tán nhỏ, mỗi lần dùng 6 – 8g bột hay sắc uống. Phối hợp với các vị khác tuỳ theo bệnh. Vd. nếu ăn không tiêu thì dùng nước gừng chiêu thuốc. Nếu chữa giun, sắc nước hạt cau rồi chiêu với thuốc.

 bsgd_moi.vn

Share this:

Bình luận