TIỂU ĐƯỜNG
02-05-2012, 12:00:00 AM


> >

Tiểu đường (I)

Bacsigiadinh.com - Bệnh tiểu đường cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng làm tăng tình trạng xơ vữa động mạch, đột quị, bệnh mạch vành tim và gây ra các bệnh lý mạch máu khác trong cơ thể.

Tiểu đường là gì?

Tiểu đường là xuất hiện đường trong nước tiểu (bình thường không có), làm cho nước tiểu có vị ngọt. Ðây là bệnh lý nội khoa mãn tính, có mức đường tăng bất thường trong máu. Ðường trong máu tăng làm xuất hiện đường trong nước tiểu.
 
Bình thường, đường trong máu được kiểm soát bằng insulin, là một nội tiết tố của tuyến tuỵ. Insulin có tác dụng làm giảm đường trong máu. Khi đường máu tăng (chẳng hạn sau khi ăn), insulin sẽ đưa mức đường huyết trở về bình thường. Ở người bị tiểu đường do sự sản xuất insulin không đủ, đó là nguyên nhân làm tăng đường huyết.
 
Tiểu đường là một bệnh lý mãn tính ảnh hưởng đến cuộc sống người bệnh. Về lâu dài, bệnh tiểu đường có thể gây tổn thương mạch máu, thần kinh, suy thận. Bệnh tiểu đường cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng làm tăng tình trạng xơ vữa động mạch, đột quị, bệnh mạch vành tim và gây ra các bệnh lý mạch máu khác trong cơ thể.
 
Bệnh tiểu đường chiếm tỷ lệ khá cao và tỷ lệ thuận với tình trạng dinh dưỡng. Có rất nhiều người bị bệnh tiểu đường mà không hề hay biết. Chi phí trực tiếp và gián tiếp cho điều trị bệnh tiểu đường cũng khá cao, vì bệnh tiểu đường phải điều trị suốt đời. Tử vong do bệnh tiểu đường đứng hàng thứ ba sau bệnh tim và ung thư.
 
Nguyên nhân nào gây ra bệnh tiểu đường?
 
Bệnh tiểu đường loại 1 là do thiếu insulin. Do tuỵ sản xuất không đủ insulin (thiếu insulin tương đối hay tuyệt đối so với nhu cầu của cơ thể) hoặc do tế bào không sử dụng được insulin, làm tăng đường huyết và tiểu đường.
 
Thường bị ảnh hưởng nhất là tế bào cơ và mô mỡ, kết quả của quá trình này được gọi là "kháng insulin". Kháng insulin là vấn đề chính trong bệnh tiểu đường loại 2. Glucose là loại đường đơn có trong thức ăn. Glucose là chất dinh dưỡng chính cung cấp năng lượng cho các tế bào trong cơ thể hoạt động. Sau khi ăn, thức ăn được tiêu hoá ở dạ dày và ruột.
 
Sau khi ăn vào, glucose trong thức ăn sẽ được hấp thu ở ruột bởi những tế bào của ruột, sau đó nó được vận chuyển trong máu đi đến các tế bào của cơ thể. Tuy nhiên glucose không thể vào trong tế bào một mình được, mà nó phải nhờ đến insulin để đưa vào trong tế bào. Nếu không có insulin, tế bào không sử dụng được năng lượng từ glucose, và như vậy làm cho nồng độ glucose trong máu tăng. Làm cho glucose bị thải nhiều qua nước tiểu.
 
Insulin là một nội tiết tố được tế bào đặc biệt của tuyến tuỵ bài tiết ra. Nó có tác dụng giúp đưa glucose vào trong tế bào, cũng như insulin giữ vai trò quan trọng trong việc điều hòa glucose máu. Tuỵ là một cơ quan nằm sâu trong bụng, phía sau bao tử .
 
Sau khi ăn, glucose trong máu tăng lên. Ðể đáp ứng với sự tăng này, tuỵ sẽ bài tiết ra insulin giúp đưa glucose vào trong tế bào và như thế sẽ làm mức đường trong máu trở về bình thường. Khi glucose trong máu thấp, tuỵ sẽ ngưng bài tiết insulin.
 
Ở người bình thường, với hệ thống điều hoà như vậy giúp kiểm soát được mức đường trong máu. Còn ở bệnh nhân bị tiểu đường, chất insulin bị thiếu hụt (tiểu đường loại 1) hoặc bài tiết không đủ cho nhu cầu của cơ thể (tiểu đường loại 2). Cả hai nguyên nhân này đều làm tăng lượng đường trong máu.
 
Sự khác biệt của bệnh tiểu đường loại 1 và loại 2 là gì?
 
 
Có hai loại bệnh tiểu đường chính, gọi là tiểu đường loại 1 và tiểu đường loại 2. Tiểu đường loại 1 còn gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin hay tiểu đường ở người trẻ. Trong bệnh tiểu đường loại 1, là do cơ chế tự miễn, tức tuyến tuỵ bị tấn công và phá hủy bởi chính cơ thể, làm cho tuyến tuỵ không còn khả năng sản xuất insulin nữa.
 
Kháng thể bất thường này được thành lập ngay trong cơ thể người bệnh tiểu đường loại 1. Kháng thể này bản chất là protein trong máu, một phần trong hệ thống miễn dịch của cơ thể. Bệnh nhân bị tiểu đường loại 1 muốn sống được cần phải chích insulin mỗi ngày.
 
Trong bệnh lý miễn dịch, cũng như ở bệnh nhân bị tiểu đường loại 1, hệ thống miễn dịch sản xuất ra kháng thể trực tiếp chống lại chính mô của người bệnh. Bệnh tự miễn này thường gây bệnh tiểu đường loại 1, mặt khác bệnh này không phải do di truyền.
 
Gen gây bệnh tiểu đường loại 1 có nhiễm sắc thể số 11 giống nhau (nhiễm sắc thể là nơi lưu trữ mọi thông tin di truyền bằng các nucleotic trong tế bào). Tiếp xúc, nhiễm một số virus như quai bị, Coxakies virus hay các độc chất trong môi trường có thể khởi phát đáp ứng kháng thể một cách bất thường, là nguyên nhân làm hư tổn tế bào tuỵ tiết insulin.
 
Tiểu đường loại 1 có xu hướng xảy ra ở người trẻ, thường dưới 30 tuổi. Tuy nhiên ở bệnh nhân trẻ còn có dạng tiểu đường do cơ hội. Tiểu đường loại 1 chiếm khoảng 10%, còn tiểu đường loại 2 chiếm 90%.
 
Tiểu đường loại 2 còn gọi là tiểu đường không phụ thuộc insulin hay tiểu đường ở người trưởng thành. Trong tiểu đường loại 2, tuỵ người bệnh vẫn còn khả năng sản xuất insulin, nhưng không đủ. Trong một số trường hợp,sau khi ăn tuỵ sản xuất một lượng insulin nhiều hơn bình thường. Ða số bệnh nhân tiểu đường loại 2, tế bào cơ thể vẫn còn nhạy cảm với insulin (đặc biệt là tế bào mỡ và tế bào cơ), lượng lớn insulin được sản xuất được tế bào nhận diện.
 
Tóm lại vấn đề tăng kháng insulin, sự phóng thích insulin từ tụy cũng có thể bị thiếu, gây ra tình trạng tăng glucose máu. Hầu hết tiểu đường loại 2 xảy ra ở người trên 30 tuổi, và tỷ lệ tiểu đường tăng theo tuổi. Yếu tố di truyền cũng đóng vai trò quan trọng trong bệnh tiểu đường loại 2. Một số yếu tố khác như mập phì cũng là nguy cơ bị tiểu đường. Có mối liên quan trực tiếp giữa béo phì và tiểu đường loại 2. 
 
Tiểu đường có thể xảy ra thoáng qua trong quá trình thai kỳ. Sự thay đổi đáng kể về hormone trong quá trình mang thai thường làm tăng mức đường trong máu ở một số người. Trong trường hợp này người ta gọi là tiểu đường do thai kỳ. Tiểu đường do thai kỳ sẽ khỏi sau khi sanh. Tuy nhiên, có khoảng 40-50% phụ nữ tiểu đường do thai kỳ sẽ bị tiểu đường thật sự sau này.
 
Ðặc biệt những người cần insulin trong suốt thai kỳ và những người này quá trọng. Ở bệnh nhân tiểu đường do thai kỳ cần phải làm test dung nạp glucose 6 tuần sau khi sanh nhằm xem sau này họ có thể bị tiểu đường hay không.
 
Tiểu đường "thứ phát" là sự tăng đường trong máu xảy ra sau khi dùng một số thuốc. Tiểu đường thứ phát chỉ xảy ra khi mô tuỵ không sản xuất được insulin do mô tuỵ bị phá huỷ do bệnh lý như viêm tuỵ mãn (viêm tuỵ do tác dụng độc của rượu khi uống nhiều rượu), do chấn thương, do phẫu thuật cắt bỏ tuỵ.
 
Tiểu đường cũng có thể do rối loạn các chất nội tiết tố khác như việc bài tiết quá nhiều hormon tăng trưởng ( bệnh to đầu chi) và hội chứng Cushing. Trong bệnh to đầu chi là do u tuyến yên nằm ở đáy não sản xuất quá nhiều hormon tăng trưởng, đưa đến tăng đường huyết. Trong hội chứng Cushing, tuyến thượng thận sản xuất ra quá nhiều cortisol, làm khởi phát sự tăng đường huyết.
 
Nói tóm lại, một số loại thuốc có thể giúp kiểm soát đường huyết hay không che đậy bệnh tiểu đường tìm ẩn. Tiểu đường do thuốc thường gặp nhất khi dùng thuốc corticoid (như prednisone).
 
Triệu chứng của bệnh tiểu đường là gì?
 
Triệu chứng sớm của bệnh tiểu đường khi không được điều trị liên quan đến sự tăng đường trong máu, xuất hiện đường trong nước tiểu. Ðường có nhiều trong nước tiểu sẽ làm lượng nước mất nhiều hơn, làm cho người bệnh khát nước và uống nhiều nước.
 
Mất khả năng sử dụng glucose là nguồn cung cấp năng lượng chính, làm cho người bệnh sụt cân, mặc dù ăn ngon miệng và ăn nhiều. Nếu không được điều trị, người bệnh sẽ mệt mỏi, buồn nôn, ói mửa. Người bệnh tiểu đường rất dễ bị nhiễm trùng da, bàng quang,vùng âm đạo. Sự dao động đường máu có thể gây ra nhìn mờ. Khi lượng đường trong máu tăng quá cao người bệnh có thể bị hôn mê dần (hôn mê do tiểu đường ).
 
Bệnh tiểu đường được chẩn đoán như thế nào ?
 
Ðo đường huyết lúc đói thường dùng để chẩn đoán bệnh tiểu đường. Xét nghiệm này dễ dàng thực hiện. Người bệnh phải nhịn đói tối hôm trước để sáng hôm sau xét nghiệm (nhịn đói tối thiểu là 8 giờ), người ta lấy một mẩu máu nhỏ gửi đến phòng xét nghiệm để phân tích.
 
Bình thường đường huyết lúc đói dưới 110 mg/ dl (tức 110mg%). Khi đường huyết lúc đói trên 126mg%, ít nhất 2 lần xét nghiệm vào những thời điểm khác nhau trong ngày, được chẩn đoán là tiểu đường.
 
Thử đường huyết vào thời điểm bất kỳ cũng có thể dùng để chẩn đoán bệnh tiểu đường (chấp nhận ăn uống trước khi thử), khi người bệnh có triệu chứng. Mức đường huyết trên 200mg/dl có thể coi là bị tiểu đường, tuy nhiên cần làm thêm đường huyết lúc đói, hoặc thử nghiệm dung nạp đường vào một ngày khác.
 
Thử nghiệm dung nạp đường bằng đường uống là gì?
 
Với thử nghiệm dung nạp đường bằng đường uống, người bệnh phải nhịn đói (tối thiểu là 8 giờ nhưng không quá 16 giờ). Ðầu tiên là đo đường trong máu lúc đói. Sau đó người bệnh được cho uống 75 mg đường glucose (phụ nữ có thai cho uống 100mg). Thông thường, người bệnh được cho uống nước đường đã pha. Lấy 4 mẫu máu ở những thời điểm khác nhau để xét nghiệm. 
 
Ðể có kết quả chính xác, người làm xét nghiệm phải khoẻ mạnh (không bị bất kỳ bệnh nào, thậm chí không mắc bệnh cảm), cũng như người làm xét nghiệm cần phải hoạt động không nằm liệt giường, không phải nằm viện và họ không thể đến bác sĩ để đo đường máu.
 
Ba ngày trước khi làm thử nghiệm, người bệnh được cho chế độ ăn giàu carbohydrate (150-200gam mỗi ngày). Ðường huyết được thử vào buổi sáng, người bệnh không được hút thuốc, uống café. 
 
Theo thử nghiệm dung nạp glucose cổ điển, đo glucose trong máu 5 lần cách nhau 3 giờ. Một số bác sĩ đơn giản hoá vấn đề bằng cách lấy mẫu máu đem làm xét nghiệm 2 giờ sau khi uống nước đường.
 
Ở người không bị tiểu đường, mức glucose sẽ giảm xuống nhanh. Ở một số người bị tiểu đường mức glucose tăng cao hơn bình thường
 
Ở người có mức đường huyết cao hơn bình thường nhưng dưới mức tiểu đường nên làm nghiệm pháp dung nạp glucose. Ở người có bất thường dung nạp glucose nhưng không bị tiểu đường. Trong vài năm sau, chỉ khoảng 1-5% số người có test dung nạp glucose bất thường bị tiểu đường.
 
Tập thể dục, giảm cân có thể giúp người có thử nghiệm dung nạp glucose bất thường có mức đường huyết trở về bình thường. Các nghiên cứu mới đây cho thấy rằng người có thử nghiệm dung nạp glucose bất thường có thể là một yếu tố nguy cơ trong bệnh tim mạch.
 
Kết quả thử nghiệm dung nạp glucose nói lên điều gì?
 
Test dung nạp glucose có thể giúp chẩn đoán:
 
Ðáp ứng bình thường, khi đường huyết đo 2 giờ sau uống nước đường thấp hơn 140mg%, trong 0-2 giờ mức đường huyết thấp hơn 200mg%.
 
Bất dung nạp glucose khi đường huyết lúc đói trên 126 mg% và glucose máu 2 giờ sau uống trong khoảng 140-199mg%.
 
Gọi là tiểu đường khi : khi xét nghiệm 2 lần ở những thời điểm khác nhau mức glucose cao.
 
Tiểu đường ở nữ có thai khi đo 2 lần đường huyết lúc đói trên 105 mg%, hoặc 1 giờ sau uống nước đường, xét nghiệm trên 190 mg%, 2 giờ đo trên 165mg%, 3 giờ đo trên 145 mg%.
 
Biến chứng cấp tính của bệnh tiểu đường là gì?
 
Mô hình mô tả bệnh nhân tiểu đường bị suy thận 
Ðường trong máu tăng quá cao do không sử dụng được insulin hoặc do thiếu insulin.
 
Hạ đường huyết bất thường có thể do dùng insulin hoặc do thuốc uống.
 
Bệnh lý mạch máu liên quan đến mắt, thận, thần kinh, tim. Tất cả là do biến chứng lâu dài của bệnh tiểu đường.
 
Insulin là một chất có tính chất sống còn cho bệnh nhân tiểu đường loại 1. Ở bệnh nhân tiểu đường loại 1, nếu thiếu insulin thì đường trong máu sẽ tăng rất cao. Khi đường máu tăng cao sẽ có đường xuất hiện trong nước tiểu (nên gọi là tiểu đường), kéo theo mất nhiều nước và chất điện giải.
 
Khi thiếu insulin, sẽ làm ly giải tế bào mỡ, làm tăng cetone trong máu. Cetone làm toan chuyển hóa máu, còn gọi là nhiễm cetone acid. Triệu chứng của nhiễm cetone acid bao gồm: buồn nôn, ói mửa, và đau bụng.
 
Nếu không điều trị kịp thời, người bệnh nhanh chóng rơi vào choáng, hôn mê và chết. Nhiễm cetone acid ở người tiểu đường thường xảy ra khi có nhiễm trùng, stress, hay khi có chấn thương. Ðiều trị cấp cứu nhiễm ceton acid bao gồm truyền dịch, chất điện giải, và chích insulin. Thường người bệnh được cho nằm điều trị tại khoa săn sóc đặc biệt trong bệnh viện . Dùng kháng sinh khi có nhiễm trùng.
 
Với điều trị, sự tăng cao đường máu bất thường, nhiễm toan chuyển hoá và mất nước có khả năng phục hồi nhanh chóng, và người bệnh khoẻ trở lại.
 
Ở bệnh nhân tiểu đường loại 2, stress, nhiễm trùng, thuốc (như corticoid) cũng có thể làm mức đường huyết tăng lên. Ở bệnh nhân tiểu đường loại 2, mức đường huyết tăng cao, làm mất nước, điện giải và tăng áp lực thẩm thấu máu. Những yếu tố này có thể làm cho người bệnh hôn mê (hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu). Hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu thường xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi bị tiểu đường loại 2. Giống như nhiễm cetone acid, hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu cần phải được điều trị khẩn cấp.
 
Ðiều trị bằng truyền dịch, chích insulin là vấn đề quan trọng trong điều trị hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu. Không giống như bệnh nhân bị tiểu đường loại 1. Ở bệnh nhân tiểu đường loại 2 thường không chuyển thành nhiễm cetone acid.
 
Hạ đường huyết cũng là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân tiểu đường. Nguyên nhân thường gặp là do dùng nhiều insulin, hoặc uống thuốc hạ đường huyết làm giảm đường huyết quá mức. Khi hạ đường huyết xảy ra do insulin, gọi là phản ứng với insulin. Ðôi khi đường huyết bị hạ là do ăn uống không đủ năng lượng hoặc do hoạt động thể lực quá mức.
 
Ðường trong máu, chủ yếu cho hoạt động của tế bào não. Vì vậy, khi đường trong máu thấp làm cho người bệnh thấy choáng váng, lú lẫn, run. Nếu không được điều trị, bệnh nhân sẽ rơi vào hôn mê, tổn thương não không hồi phục.
 
Ðiều trị hạ đường máu bằng cách cho người bệnh uống nước đường như uống nước cam, ăn đường thẻ. Nếu người bệnh vẫn chưa tỉnh, cho chích thịt glucagon, thuốc này có tác dụng giải phóng glucose dự trữ ở gan để đem ra sử dụng đặc biệt nếu người bệnh đang dùng insulin.
 
Gia đình và bè bạn của người bệnh tiểu đường cần phải biết cách chích glucagon. Từ đó người bệnh hy vọng mình sẽ không bị hạ đường máu quá mức để phải đưa vào bệnh viện cấp cứu.
 
BS.Phùng Hoàng Đạo 

 

benh tieu duong, nguoi benh tieu duong can chu y, phong benh cho nguoi benh tieu duong, phong ngua bien chung benh tieu duong, bien chung nguy hiem, chan doan benh tieu duong,

Ý KIẾN
Tên  
Địa chỉ  
Email    
Tiêu đề  
Ý kiến
Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu
kham-trong-nuoc kham-quoc-te
kham cao cap
bac si
Tin Tức
Phòng Bệnh
Giới Tính
Dinh Dưỡng
Tivi Bác sĩ
Kiến Thức Y Học
Từ Điển
Sổ Tay Sức Khỏe
Đăng nhậpX
Email đăng nhập:
Mật khẩu: